Tiềm năng và cơ hội

Tác giả:

Chuyên mục:

Tiềm năng và cơ hội

Cây cảnh sân vườnTiềm năng và cơ hội

Xanh không chỉ là từ dùng để chỉ màu sắc của thiên nhiên, cây cỏ mà dần trở thành khái niệm xu hướng phát triển cho ngành xây dựng trên toàn thế giới. Được đề cập lần đầu tiên vào năm 1990 và dần trở nên phổ biến vào năm 2002 với sự ra đời của Hội đồng Công trình Xanh Thế giới, “Công trình Xanh” (hay “Công trình bền vững”) đã có tác động toàn diện và mạnh mẽ đến ngành xây dựng trên phạm vi toàn cầu. Mặc dù xu hướng này đã được khởi xướng từ năm 2007 nhưng cho đến nay, thị trường Công trình Xanh tại Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển ban đầu.

tổng thống
President Place, Quận 01, TP. Hồ Chí Minh

Theo thống kê, tại Việt Nam hiện có khoảng 61 công trình xanh ở các giai đoạn khác nhau (gồm 36 công trình đạt chứng chỉ LEED (US Green Building Council – USGBC), 13 công trình đạt chứng chỉ LOTUS (Vietnam Green Building Council – VGBC) và khoảng 12 công trình thuộc Chứng nhận Green Mark (Bộ Xây dựng Singapore – BCA)). Con số này được cho là thấp so với hơn 2.100 dự án tại Singapore (theo chứng chỉ Green Mark) hay hơn 750 dự án tại Úc (theo chứng chỉ Green Star), bởi điều kiện đặc thù tại Việt Nam. Tuy nhiên, thị trường Công trình Xanh tại Việt Nam vẫn được đánh giá là tiềm năng với nhiều cơ hội phát triển trong những năm tới.

Ban đầu, động lực chính để các công trình đi theo xu hướng Công trình xanh và bền vững đến từ các “Chương trình trách nhiệm xã hội” của các tập đoàn lớn, hay trong các chiến lược quảng bá hình ảnh sản phẩm. sản phẩm và thương hiệu, cũng như nhằm mục đích giảm thiểu chi phí hoạt động (ví dụ: Tập đoàn Big C Việt Nam (bán lẻ), Công ty Taekwang Vina (da giày), Tập đoàn Intel (công nghệ), Coca-Cola Việt Nam (nước giải khát), Tập đoàn Pou Chen (da giày)). Điều này lý giải phần lớn các chủ đầu tư/chủ sở hữu công trình xanh là các tập đoàn/công ty quốc tế hoặc đa quốc gia, có sự nhìn nhận đúng đắn và rõ ràng về lợi ích của công trình xanh.

Ngoài ra, một số hạn chế khác cũng đang tồn tại và cản trở sự phát triển của công trình xanh tại Việt Nam. Ví dụ, các bên liên quan chưa nhìn nhận đầy đủ về công trình xanh, đặc biệt là về chi phí xây dựng công trình xanh và khái niệm về tính bền vững của công trình. Các chủ đầu tư trước đây vẫn có quan niệm rằng chi phí xây dựng Công trình xanh thường phải cộng thêm 20-30% so với chi phí đầu tư ban đầu, hoặc một số chủ đầu tư vẫn đẩy mạnh công trình “Xanh” nhưng lại thiếu. thông tin về hiệu quả sử dụng tài nguyên của tòa nhà, cải thiện sự thoải mái của người sử dụng và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Hơn nữa, việc các tiêu chuẩn xây dựng không được thực hiện và tuân thủ nghiêm ngặt cũng tác động không nhỏ đến thị trường công trình xanh và ngành xây dựng. Ngành xây dựng trong nước vẫn chưa được tiếp cận rộng rãi với các khái niệm, kỹ năng và công nghệ thiết kế và xây dựng công trình xanh khiến việc phát triển công trình xanh trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn. cái khăn lau.

bông sen kim cương
Diamond Lotus – Quận 08, TP. Hồ Chí Minh

Tuy nhiên, thời gian gần đây, “nhu cầu thị trường” và “cơ hội hút khách” đang dần trở thành một trong những động lực quan trọng để “xanh hóa” các công trình, dự án, bằng chứng là dự án căn hộ cao cấp của Tập đoàn Phúc Khang – dự án Diamond Lotus đã trở thành dự án đầu tiên dự án chung cư đăng ký chứng nhận LEED tại Việt Nam. Ngoài ra, để dễ dàng xuất khẩu sản phẩm sang các thị trường mới, có yêu cầu cao (Bắc Mỹ, khu vực Asean, Liên minh Châu Âu), một số tập đoàn lớn đã quyết định xây dựng nhà máy theo tiêu chuẩn. Công trình xanh (nhà máy Bel Greenfield Asean – Bình Dương, hay nhà máy may mặc Deutsche Bekleidungswerke – Long An), cũng như thiết lập các chiến lược và dây chuyền sản xuất tiết kiệm tài nguyên, cam kết sản xuất sản phẩm theo hướng bền vững và thân thiện với môi trường. Dự án President Place tại TP.HCM. Hồ Chí Minh (tòa nhà văn phòng đạt chứng nhận LEED Gold 2012) đã tận dụng chứng chỉ Công trình Xanh để đạt tỷ lệ lấp đầy 80% diện tích văn phòng trong vòng 1 năm hoàn thành, với lượng khách hàng đến từ các tập đoàn lớn và đa quốc gia như Microsoft, Starbucks, Sony,.. .

Trái ngược hoàn toàn với quan điểm cho rằng “Xây dựng công trình xanh rất tốn kém”, chi phí gia tăng cho việc xây dựng công trình xanh thực tế dao động từ 1% đến 5%, tùy thuộc vào mức độ chứng nhận của công chúng. quy trình xanh mong muốn và chi phí đầu tư ban đầu. Dựa trên nghiên cứu về các dự án công trình xanh ở Việt Nam, chi phí gia tăng trung bình là 1,8% đến 2%. Chi phí gia tăng này bao gồm chi phí thiết kế và nghiên cứu chuyên sâu, chi phí tư vấn cấp chứng chỉ công trình xanh và chi phí vật tư thiết bị phù hợp với yêu cầu của công trình xanh. Hiện tại, các sản phẩm và dịch vụ công trình xanh đã trở nên khá phổ biến ở Việt Nam và khu vực châu Á – Thái Bình Dương nhờ sự cải thiện và nhận thức của thị trường địa phương. Những nỗ lực của chính quyền và các cơ quan nhà nước cũng rất đáng được ghi nhận thông qua các hoạt động đào tạo về Quy chuẩn quốc gia về các tòa nhà sử dụng năng lượng hiệu quả (QCVN 09:2013/BXD), hay các ưu đãi về hệ số sử dụng đất đối với các công trình thân thiện với môi trường trên địa bàn thành phố. Hồ Chí Minh. Sắp tới, ngành xây dựng và bất động sản sẽ sớm có thông tin về gói ưu đãi từ Chương trình đầu tư công trình xanh do Tổ chức Tài chính Quốc tế – Ngân hàng Thế giới (IFC-WorldBank) phát triển. khuyến khích đầu tư công trình xanh và sử dụng năng lượng hiệu quả tại Việt Nam.

Nhờ những tín hiệu tích cực và nỗ lực từ các bên liên quan trong ngành xây dựng, thị trường xây dựng Việt Nam thời gian tới sẽ có nhiều tiềm năng và cơ hội để “đổi xanh”, dưới sự phối hợp của các bên liên quan chặt chẽ giữa chính phủ, giới học thuật và khu vực tư nhân.

Vũ Hồng Phong – Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam / VGBC
(Bài viết đăng trên Ashui.com)

Thế Giới Cây Cảnh [G+] – Mang đi yên tâm!

Tạp chí Thế Giới Cây Cảnh

Tags: Dự án nhà hàng , Nhà ở xanh , Cao ốc văn phòng , công trình xanh , Khách sạn xanh , Tạp chí Thế Giới Cây Cảnh , thương mại xanh

Bài viết mới nhất

Xem Thêm

Chủ Đề Liên Quan