Các yếu tố dinh dưỡng cây trồng và phân bón | Thế Giới Cây Cảnh

Tác giả:

Chuyên mục:

Các yếu tố dinh dưỡng cây trồng và phân bón | Thế Giới Cây Cảnh

Cây cảnh sân vườnCác yếu tố dinh dưỡng cây trồng và phân bón | Thế...

Hầu như tất cả các nguyên tố tìm thấy trong đất đều được tìm thấy trong thực vật. Kỹ thuật phân tích càng phức tạp thì càng phát hiện được nhiều yếu tố. Ban đầu người ta cho rằng có những nguyên tố cần thiết cho đời sống sinh dưỡng của cây và có những nguyên tố không cần thiết cho đời sống của cây mà chỉ có trong cây do hấp thụ quá mức. Kết quả nghiên cứu dần hé lộ vai trò của nhiều yếu tố mà trước đây chưa được chú ý. Sự phân biệt giữa các yếu tố thiết yếu và không thiết yếu dần dần mất hết ý nghĩa.

Các yếu tố thực vật còn được phân biệt thành các yếu tố cấu trúc, tức là những yếu tố có trong thành phần cấu tạo của tế bào mô thực vật, và các yếu tố phi cấu trúc không phải là yếu tố cấu tạo tế bào. mô thực vật. Các yếu tố là thành phần cấu trúc của tế bào mô thực vật còn được gọi là các yếu tố dinh dưỡng, được coi là thức ăn của thực vật. Một số yếu tố có vai trò khác: hoặc là tác động đến quá trình trao đổi chất của chính cây trồng do tác động đến các enzym, chất điều hòa sinh trưởng hoặc là thành phần của enzym, vitamin. , một chất điều hòa sinh trưởng kiểm soát quá trình trao đổi chất. Để thống nhất việc trao đổi thông tin, FAO khuyến nghị quy ước sau đây để nhóm và đặt tên cho các yếu tố được tìm thấy trong cây:


thức ăn thực vật

1.1. Phân loại các yếu tố dinh dưỡng

Chất dinh dưỡng có 16 nguyên tố: C, H, O, N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, Zn, Mn, Cu, Bo, Mo, Cl.

Các chất dinh dưỡng chính còn được gọi là phân bón chính. Đó là 3 nguyên tố N,P,K.

Các nguyên tố trung gian: Ca, Mg, S và cuối cùng là Si

Nguyên tố vi lượng: Fe, Mn, Cu, B, Mo, Co, Ni, Se,…

Danh sách các nguyên tố vi lượng ngày càng nhiều, đối với các nguyên tố thường được nhắc đến như Co, Va, Na, Zn, Al, Pb và các nguyên tố phóng xạ, đất hiếm. Các chất trong thực vật không nhiều, ít đến mức khó phát hiện, nhưng dù sao cũng có vai trò quan trọng gọi là các nguyên tố siêu vi lượng.

1.2. Cơ sở phân loại các yếu tố dinh dưỡng

Việc phân nhóm trên không hoàn toàn dựa vào nội dung của các phần tử đó trong cây. Hàm lượng S và Mg trong cây không kém P, nhưng P được coi là nguyên tố dinh dưỡng trung lượng và hàm lượng các nguyên tố Na, Cl, Fe trong cây cũng được coi là nguyên tố vi lượng. Sự điều chỉnh như vậy thậm chí không phải do tầm quan trọng sinh lý của các yếu tố. Tất cả các nguyên tố dù nhiều hay ít đôi khi phải dùng các phương pháp định lượng rất phức tạp mới phát hiện được, chúng vẫn có vai trò sinh lý nhất định và nếu thiếu chúng vẫn có thể làm rối loạn quá trình chuyển hóa trong thực phẩm. vật. Thực chất cách bố trí trên là tổng hợp cả nhu cầu của cây trồng và khả năng cung cấp của đất, thể hiện ở nhu cầu bón phân bổ sung. Ca, Mg và S là các nguyên tố thiết yếu của thực vật, được tìm thấy ở nồng độ cao trong thực vật, nhưng thường được cung cấp đủ lượng từ đất để đáp ứng nhu cầu bình thường của cây, chỉ trong một số trường hợp nhất định. hoặc một số loại cây trồng. cần nhiều hoặc đất không cung cấp đủ cần phải bổ sung nên được xếp vào nhóm dinh dưỡng trung lượng. Cũng như vậy, Na và Cl ít khi thiếu nên thường được xếp vào nhóm nguyên tố vi lượng.

Việc điều chỉnh trên là do xem xét vấn đề trên quan điểm phân bón chứ không phải xét trên quan điểm dinh dưỡng cây trồng. Chúng tôi nghĩ rằng sử dụng từ yếu tố lời cầu xin Từ này phù hợp hơn yếu tố dinh dưỡng.

Sự khác biệt giữa yếu tố phân bón chính, phân bón trung lượng và phân bón vi lượng cũng là tương đối. Ở một loại đất, một nguyên tố được coi là yếu tố phân bón chính do đất không cung cấp đủ, nhưng ở một loại đất khác, nó lại là yếu tố phân bón thứ cấp. Người ta thấy rằng ở vùng đất chua, đất đồi khi trồng cây chịu chua thì canxi quan trọng hơn kali. Khi năng suất còn thấp thì nguồn cung cấp tự nhiên một số nguyên tố P, K, Ca, Mg, S đủ cho nhu cầu của cây. Với việc chuyển sản xuất sang thâm canh, năng suất trên một đơn vị diện tích tăng lên, lượng sản phẩm thu hoạch vượt quá khả năng cung cấp của đất, một số yếu tố phân bón phụ đang dần trở nên yếu kém. yếu tố chính. Một số nhà nghiên cứu đề nghị bổ sung các yếu tố S, Mg và Ca làm yếu tố phân bón chính.

Từ phân bón được dùng để chỉ những chất bón vào đất nhằm bổ sung cho cây những chất dinh dưỡng mà đất không cung cấp được. Loại phân bón đầu tiên được sử dụng là chất thải chăn nuôi, cây trồng, lá xanh, rác thải sinh hoạt được chế biến thành phân hữu cơ; chất thải, phân xanh, xương động vật. Chỉ đến thế kỷ 19, người ta mới bắt đầu sử dụng các sản phẩm của ngành khai thác mỏ và hóa chất để làm phân bón hữu cơ. Loại phân bón đầu tiên do công nghiệp hoá chất sản xuất ra là supe lân (năm 1840 và sản xuất công nghiệp năm 1942 ở Anh). Phân kali chiết xuất từ ​​​​công nghiệp khai thác lần đầu tiên được sử dụng với số lượng lớn kể từ năm 1861. Chỉ đến năm 1905, phân đạm mới được sản xuất bằng quy trình tổng hợp trong công nghiệp hóa chất, và trước đó chỉ có một lượng nhỏ natri và kali nitrat. . Nitrat được khai thác từ mỏ để làm thuốc súng chứ không phải phân bón. Phân bón do công nghiệp khai khoáng và công nghiệp hóa chất sản xuất lúc bấy giờ là phân bón vô cơ nên phân bón vô cơ và phân bón hóa học được sử dụng rộng rãi và được coi là đồng nghĩa. Vì urê là một chất hữu cơ được sản xuất rộng rãi (1945) và nhiều loại sản phẩm hóa học hữu cơ sau đó được sử dụng làm phân bón nên thuật ngữ phân bón hóa học không còn đồng nghĩa với phân bón vô cơ nữa. bắp thịt.

Phát triển công nghệ khai khoáng và phát triển công nghệ ứng dụng phân bón Các sản phẩm thu được từ công nghiệp khai khoáng được sử dụng theo cả hai hướng: chế biến thông qua công nghệ hóa học và sử dụng trực tiếp làm phân bón như phân bón. bột lân, bột apatit, phân ít kali. Vì vậy, thuật ngữ phân bón tự nhiên trước đây đồng nghĩa với phân hữu cơ và phân bón nhân tạo đồng nghĩa với phân khoáng không còn được áp dụng. Phân tự nhiên có thể là hữu cơ và vô cơ (phân thối,…) còn phân nhân tạo (phân công nghiệp) cũng có phân hữu cơ và vô cơ. Sự phân biệt giữa phân bón hữu cơ và vô cơ trở nên khó hiểu.

2.1. phân bón công nghiệp

Chúng là các sản phẩm hữu cơ hoặc vô cơ, sống hoặc không sống, được sản xuất bằng công nghệ khoáng, hóa học hoặc sinh học, được sử dụng để cung cấp chất dinh dưỡng hoặc cải thiện sức khỏe chứ không phải là một quá trình. cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng.

Phân bón công nghiệp sẽ bao gồm:


– Phân bón hóa học: bao gồm các sản phẩm công nghệ khai thác và công nghệ hóa học, ở dạng hữu cơ hoặc vô cơ nhằm cung cấp các nguyên tố phân bón sơ cấp (N, P, K) và các nguyên tố phân bón trung lượng (Ca, Mg, S) cho cây trồng.


– Hóa sinh: bao gồm các sản phẩm chứa các hợp chất hữu cơ hoặc vô cơ, vai trò chính là tác động đến quá trình trao đổi chất ở cây trồng để tăng khả năng hấp thụ và sử dụng các chất dinh dưỡng để tạo ra sản phẩm. Có hai loại phân bón:

+ Phân vi lượng

+ Chất điều hòa sinh trưởng

Phân bón vi sinh: là chế phẩm chứa các vi sinh vật có ích như vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân, vi sinh vật phân giải kali, vi sinh vật kháng sinh (tiết kháng sinh giúp cây trồng chống lại mầm bệnh). bệnh cây).

Các chế phẩm không chứa vi sinh vật sống mà chỉ chứa enzym, chất kích thích sinh trưởng thực vật và chất kháng sinh nên được xếp vào loại phân bón sinh học.

2.2. Phân bón do nông dân sản xuất (phân bón địa phương)

Bao gồm các phần hữu cơ và vô cơ, thường là các loại phân hữu cơ (phân chuồng, phân chuồng, rác thải, than bùn) có chức năng chính là làm tăng lượng mùn và ảnh hưởng đến tính chất lý hóa của đất. quá trình đất cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng hoặc cung cấp trực tiếp một phần chất dinh dưỡng cho cây trồng.

2.3. chất cải tạo đất

Bao gồm các chất cải thiện độ chua của đất (vôi, thạch cao,…), chất làm tăng độ tơi xốp của đất – tăng khả năng làm chậm quá trình giải phóng phân (zeolit) và chất kết dính các hạt đất, tạo cấu trúc cải tạo. tình trạng thể chất. tính chất đất.

GS Võ Minh Kha, Sổ tay thực hành sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1996

Nguồn: camnangcaytrong.com

Bài viết mới nhất

Xem Thêm

Chủ Đề Liên Quan